RSS Feed

Truy tìm về một giai thoại đặt mộ – P.2.

GỀNH ĐÁ CÓ BỊ CHÌM SÂU DƯỚI NƯỚC THÌ MẢ MỚI BẮT ĐẦU KẾT PHÁT…
Số là lão vâng theo di chúc của tổ phụ, sang đây tìm cuốn gia phả và nghiên cứu kỷ lưỡng ngôi đất, đã do tổ phụ lão dày công lựa chọn, từ hơn hai mươi năm nay, bao phen cứ tưởng phải bỏ xác xứ này, trước khi tìm được cuốn gia phả kia.
May sao, khi lần mò tới vùng Ngòi Xảo, lại kiếm được Hang Chua, và nhờ một sự tình cờ nữa, còn được kết giao với Tiên Sinh, để hợp tác với Tiên Sinh, cùng hưởng chung ân lộc của Trời Phật đã dành riêng cho hai họ Vi, Lương của chúng ta.
Có lẽ cũng vì lòng trời, mới xui khiến cho chúng ta được gặp nhau, hiểu nhau và mến thương nhau không khác chi anh em ruột thịt.
Dứt lời, có lẽ vì cố gắng quá, Lương lão nhắm mắt, ngất lịm đi, thiêm thiếp mê man .
Một lúc sau, lão bừng mở mắt nhìn họ Vi tha thiết nói thêm :
– Lão cần căn dặn Tiên Sinh một điều cực kỳ trọng hệ, có liên quan chặt chẽ đến vận mạng con cháu chúng ta về mai hậu : là kiểu đất Lưỡng ngưu ẩm thủy, cứ theo lời di chúc của tổ phụ lão, vốn là một kiểu đất đặc biệt, cổ kim không co một nơi nào có được một khu quý địa như thế đâu ?
Bởi vậy, khi lão nhắm mắt rồi, nếu có người am tường môn phong thủy, được xem qua kiểu đất, mà có nói ra nói vào điều gì hay bàn luận, thêm bớt nào, cũng xin Tiên Sinh thận trọng tuyệt đối không được nghe theo lời họ, vì họ chỉ biết quan sát bề ngoài, đánh giá sự kết phát theo địa hình địa thế, chứ biết sao được những lẽ huyền bí, kỳ ảo, phát sanh từ nơi khác, ở cách xa đây hàng vạn dậm, có lẽ cao xa, hóc hiểm lắm, nên cá Cụ chỉ di chú lại qua loa cho mình biết thôi không cần phải dài dòng giải thích.
Tóm lại, thầy địa lý nào, xem kiểu đất của mình mà phân kim, án hướng, mai táng hài cốt theo lề lối thông thường của khoa phong thủy thì nhất định sẽ bị thần linh trừng phạt tức khắc, sự kết phát trong trường họp ấy đã hiển nhiên hõng hết, mà thầy địa lý cũng khó lòng giữ gìn được cho vô sự.
Vi Đạt hứa làm theo lời Lương lão căn dặn. Họ Lương cảm tạ, rồi nấc lên một tiếng, từ từ nhắm mắt lại, hơi thở nhẹ dần, rồi im bặt.
Sau khi chôn cất Lương lão ở khu đất phía hữu sông Cả mồ yên mả đẹp, đúng như phương pháp tổ phụ họ Lương đã ghi chép từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Vi Đạt liền thu xếp hành trang đem con trai đến vùng Lĩnh Nam dò xét tông tích thân quyến, và đem hài cốt thân phụ về Ngòi Xảo an táng.
Nhưng Vi Đạt chỉ cải táng được phần mộ chớ không dò hỏi được tí tin tức gì của người nhà hết, vì theo lời dân cư sở tại thuật lại, thì sau cơn khói lửa kinh khủng, khiến Vi Đạt phải bôn tẩu giang hồ, cả thân quyến họ Vi cũng tản mát, mỗi người một ngả, chẳng còn ai biết được họ sống chết còn mất thể nào ?
Cuối cùng, dọ hỏi khắp nơi, thì Vi Đạt còn một người em, theo lời thuật lại của họ Phùng thì người em này đang bị giam ở trong tù. Vi Đạt đau đớn vô cùng. Anh em phải thất lạc bao nhiêu năm trời, khi tìm được tung tích, không ngờ em lại bị vạ gió tai bay, mà mình bất lực, không có phương gì giải cứu. Càng nghĩ, họ Vi càng tức bực, nhiều lúc muốn bạo động, song e quả bất địch chúng, họa hổ bất thành, chắc lại nguy hiểm thêm cho tính mạng Vi Hoành.
Sau khi viên Tù Trưởng cùng bọn thủ hạ áp giải kẻ bị tình nghi đi rồi, họ Phùng mới cho Vi Đạt biết rằng : viên Tù Trưởng họ Hoàng, vốn là một kẻ tham tàng, bạo ngược, từ khi được nối chức cha, đã gieo bao tan tóc đau thương cho dân chúng trong vùng.
Y lại còn liều lĩnh hơn nữa, thường tìm cách xâm lấn ruộng rẫy, đem gia nhân thân tín đến các khu rừng núi kế cận, thuộc quyền cai trị của các Lang Đạo khác, để lấy các thứ lâm sản và săn bắn, thường xuyên gây sự bất hòa với các động ở gần quanh Hoàng Su Phì, khiến cho dân cư bị ảnh hưởng lây, cũng luôn luôn bị các bộ lạc thù địch đến đánh phá cướp đoạt trâu bò, thóc lúa, làm cho người dân Hoàng Su Phì không mấy khi dám ra khỏi địa hạt.
Theo lời vợ con của họ Phùng thuật lại thì vụ Vi Hoàng bị bắt cũng không có gì quan trọng, vì viên Tù Trưởng chỉ tình nghi qua giáng điệu lực lưỡng, khoẻ mạnh của Hoành, chớ không hề tìm được một bằng cớ rõ rệt nào khả dĩ chứng minh được là Hoành to rập với đám cướp để đưa đường đánh phá họ Hoàng.
Họ Phùng bàn luận với Vi Đạt, rồi định sáng hôm sau, sẽ thân hành lên động Tù Trưởng, để biếu lão một ít lể vật, xin tha cho Vi Hoành.
Không ngờ sáng hôm sau, giữa lúc hai người vừa định sửa soạn ra đi, thỉ bỗng được tin tráng đinh trong bản phi báo rằng : vào hồi nửa đêm hôm qua, viên Tù Trưởng ở gần đấy, kéo thủ hạ đến đánh cướp dinh họ Hoàng, giết được họ Hoàng, và toan kéo nhau vào phá kho thóc, cướp vàng bạc, trâu bò, thì đám tù nhân, ước chừng năm chục người, toàn là những thanh niên vũ dũng do Vi Hoành cầm đầu, tức giận, đã nổi cả lên, phá ngục thất, cưỡng hiếp đám lính canh phòng, đoạt chìa khóa kho vũ khí rồi cùng hợp lực, kéo nhau ra đánh đuổi bọn cướp.
Bị phản công bất ngờ, viên Tù Trưởng địch phải bỏ hết trâu bò, thóc lúa, hô thủ hạ chạy trốn vào rừng.
Nhưng chúng cũng bị hạ sát tới 5 tên, vứt lại nhiều giáo mác và ba con ngựa thồ.
Dân chúng và binh linh ở động Hoàng Su Phì cảm mến ân đức ấy của Vi Hoành, hơn nữa lại quá căm thù oán ghét Tù Trưởng họ Hoàng đã hèn nhát lại tham nhũng, nên đồng lòng tôn Vi Hoành lên làm Tù Trưởng.
Sau đó, một thời gian ổn định. Vi Hoành đã cho người về đón Vi Đạt lên động chơi, để anh em có dịp hàn huyên cho thỏa lòng nhớ thương trong bao ngày lạc lõng chia ly.
Vi Đạt mừng rỡ quá, vội sửa soạn hành trang đem Vi Thành cùng đi với người dân ở Hoàng Su Phì, lên động thăm em, ở chơi gần nửa tháng mới cáo biệt, theo họ Hoàng đi Nước Hai, để tìm mua mấy thứ thổ sản, đem về bán buôn cho các Hoa thương ở Hà Giang.
Không ngờ trong chuyến du hành này, họ Vi một lần nữa, lại gặp một điều vô cùng may mắn khác.
DUYÊN MAY NGÀN DẶM
Theo tục lệ thổ dân ở vùng Nước Hai, tỉnh Cao Bằng, hằng năm, cứ đến cuối mùa Xuân, lại có tục gieo cầu, trai tráng các nơi, không luận sang hèn, giàu nghèo, cứ miễn là thanh niên khoẻ mạnh biết cưởi ngựa, bắn nỏ, thông thạo võ nghệ, đều được dự thí, miễn được thiếu nữ nào ném trúng quả tú cầu thêu vóc hồng thì được cha mẹ cô gái ấy, mời về nhà khoản đải, gả con gái cho, rồi dựng nhà chia trâu, chia ruộng, gây dựng cơ nghiệp cho con rể, cho tới bao giờ vợ chồng con rể tạo được cơ nghiệp căn bản vững vàng mới thôi.
Do đó, nhằm tiết cuối xuân, các thanh thiếu niên trai tráng, chẳng cứ ở Nước Hai, mà co khi còn ở những vùng xa xôi, cũng rũ nhau tìm đến dự hội gieo cầu, để hy vọng chiếm được người đẹp và có cơ hội gây dựng cơ nghiệp lâu dài.
Năm ấy trên khu đồi gần đình quan Lang, nơi vẫn đươc chọn làm bải gieo cầu cho những nam thanh, nữ tú, đã được trang trí rực rỡ, khác hẳn thường lệ, vì năm nay có con gái quan Lang Nước Hai đến tuổi gieo cầu, cũng theo chân các bạn đồng trang lứa, dự hội du xuân, để thử xem số mạng.
Tin đó như một ánh lửa loè sáng giữa đêm khuya tăm tối, đã có mảnh lực thu hút được hàng trăm thanh niên, đủ giai cấp ở miền sơn cước, nô nức kéo nhau đến Nước Hai để …” tìm duyên nợ ” !
Sự nô nức đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm vì con gái quan Lang, vốn nổi danh tài mạo, tuyệt vời, nhan sắc chẳng những hoa nhường nguyệt thẹn, cá lặn, nhạn sa, mà khác hẳn với những sơn nữ khác, các môn cầm kỳ thi họa, nàng đều làu thông, không kể cái biệt tài võ nghệ.
Thiên hạ thường đồn đải với nhau rằng vị thiên kim tiểu thư, con gái duy nhất của quan Lang Nước Hai, vẫn luôn luôn ăn vận nam trang, một mình cưỡi ngựa vào rừng sâu săn bắn, đã có lần hạ luôn một lúc được hai mảnh hổ, một con dùng tên bắn, một con nàng dùng bàn tay nhỏ bé mềm mại như nhung để giáng một cái thôi sơn, vào giữa đầu cọp, khiến chúa sơn lâm vỡ sọ, chết tươi, không kịp rống lên một tiếng giả biệt núi rừng.
Nhưng dù võ nghệ vào loại bạt sơn, cử đỉnh, vị tiểu thư lá ngọc cành vàng ấy, vẫn không quên cái địa vị cao quý của một giai nhân sinh trưởng nơi trường gấm màn the, ra hài, vào hán, mổi lời sai bảo, trăm tiếng dạ vang, muốn gì được nấy, cha mẹ nưng niu, chiều chuộng như trứng mỏng trên tay, nên những lúc chiều tà đối bóng, Đinh tiểu thư thường gây một lò trầm hương ở căn lầu trông thẳng ra vườn hoa, mà nàng đã đặt cho cái tên rất thơ mộng là Nghênh hương các, để nhìn trăng, gảy khúc đàn tuyệt diệu, gửi tâm tình qua những âm hưởng thanh cao, du dương, thảnh thót, của chiếc nguyệt cầm, không kém gì tiếng giây tơ huyền ảo của những tay danh cầm, tuyệt kỹ thuở xưa, mà tên tuổi còn được lưu lại trong những áng diểm tình giai thoại, muôn ngàn thu, còn có tác dụng rung chuyển lòng người !
Khác hẳn lối giáo huấn khắc nghiệt của thời phong kiến, mà giá trị người con gái không hơn gì một món đồ chơi, hay một cái máy để khi ở nhà tuỳ thuộc quyền cha mẹ, khi xuất giá, làm tôi mọi cho chồng, dở hay sướng khổ đều không do tự mình quyết định, vợ chồng quan Lang Nước Hai thấy con gái tài sắc vẹn toàn, công dung, ngôn hạnh gồm đủ, văn võ gồm tài, cầm kỳ thông thạo, nên để mặc cho nàng tự kén lấy bạn trăm năm, chứ không ép uổng con gái như những gia đình khác, vì cả hai ông bà cũng tin rằng : Nàng có đủ trí sáng suốt tìm được ý trung nhân để trao sương gửi thịt.
Vã lại quan Lang cũng hiếm hoi, dưới gối chỉ có một mình nàng, nên hai ông bà cũng muốn cho nàng kén được người tuấn tài để mai sau nối nghiệp ông cha.
CHÚA TỂ ĐẤT LẠNG SƠN
Sau khi an táng hài cốt tổ phụ vào huyệt tả ngạn sông Cả, ở ngay cửa Ngòi Xảo, họ Vi đi buôn trên miệt Hoàng Su Phì, gặp được em ruột là Vi Hoành bị thất lạc từ khi có cuộc biến loạn ở Lĩnh Nam. Nhờ tài võ dũng quả cảm, Vi hoành đánh ta bọn giặc ở vùng Bắc Mục, nhân lúc bất ngờ kéo đến cướp đoạt trâu bò, vàng bạc của dân cư sở tại, nên được mọi người tri ân, tôn lên làm Tù Trưởng.
Vi Đạt cùng con trai là Vi Thành, sau đấy lại qua phủ Nước Hai ở Cao Bằng để mua ngựa tốt, nhằm đúng hội gieo cầu, được quan Lang Nước Hai kén Vi Thành làm giai tế, húa cho nối nghiệp khi từ trần, ví quan Lang không có con trai kế tự.
Họ Vi hiển đạt, làm chúa tể hai miền sơn cước hưng thịnh, trù phú, cha truyền con nối cho đến năm Minh Mạng thứ tám, mới di cư qua đất Lạng Sơn, cầm đầu các động thổ dân, rất được mọi người kính nể, tuyệt đối phục tùng.
MẢ PHÁT TO
nhưng nhiều người bị bất đắc kỳ tử…
Khi Vi Văn Định làm Tổng Đốc tỉnh Thái Bình, nhờ có quan Tri Châu Bắc Quang họ Cao giới thiệu, được quen biết một nhà phong thủy chánh tông họ Triệu từ tỉnh Triết Giang bên Tàu trốn qua Việt Nam tỵ nạn, sau cuộc âm mưu khởi nghĩa định lật đổ đế chế Mãn Thanh bị thất bại, khiến cho một số lớn đồng chí của họ Triệu phải rơi đầu trước lưỡi gươm đẩm máu tàn bạo của bọn vua quan nhà Thanh, không ngần ngại gì, thường thẳng tay chém giết những người Trung Hoa, không chịu theo chúng, để củng cố chiếc ngai vàng mục nát.
Vi Văn Định tiếp đải họ Triệu rất trọng hậu, dùng lể thượng khách đối xử một cách cực kỳ cung kính.
Họ Triệu thấy Định đang đắc thời, đắc thế, được người Pháp tin dùng, tuy chỉ cầm đầu có một tỉnh, mà quyền uy khét tiếng khắp nơi, hách dịch như một vị tiểu vương, nghênh ngang một mình một cỏi biên thuỳ, nên muốn được sống yên thân nơi xứ lạ cũng hết lòng cung kính, tận tâm, tận lực phụng thừa Vi Văn Định, coi Đinh như thần hộ mạng, có đủ thế lực che chở cho mình trong lúc sa cơ thất thế.
Bởi vậy, khi được Định đưa lên Ngòi Xảo phúc lại ngôi mả tổ tiên tả ngạn dòng sông Cả, họ Triệu đã một mình lăn lội vào rừng thẩm, núi cao, tận dụng tài học sở trường về môn phong thủy, để nghiên cứu kỷ lưỡng, địa hình, địa thế khắp vùng “Lưỡng Ngưu ẩm thủy”, tới gần nửa tháng trời, mới nói cho Vi Văn Định biết rằng :
– Quả đúng là đất đại quý, sự kết phát sẽ bền vửng lâu dài bất cứ triều đại nào, họ Vi cũng được coi là anh hùng một cỏi giang sơn riêng biệt.
Nhưng so sánh hai ngôi mộ ở tả hữu ngọn sông Cả trong vùng Ngòi Xảo, thì mả của họ Lương đắc dịa hơn nhiều.
Cứ nhìn qua bề ngoài của hai ngôi mộ, người không biết gì về khoa địa lý cũng có thể phân biệt được sự hơn kém : mả tổ phụ họ Lương không cần trông coi, bồi đắp mà quanh năm, lúc nào cũng to lớn, nổi cao lên như một cái đồi nhỏ, cỏ mọc xanh rờn, dây leo chằng chịt, trông xa như một tấm thảm nhung biếc, đẹp mắt vô cùng.
Còn mả tổ họ Vi, dù thường xuyên vẫn có gia nhân, canh gác, đắp đất, rẩy cỏ rất cẩn thận mà cỏ vẫn kém tươi, mộ phần cũng chỉ bằng tám phần mười ngôi mả của họ Lương, mặc dù phong cảnh cũng xinh đẹp lạ lùng. Sở dĩ có sự khác biệt ấy, theo sự nhận xét của nhà phong thủy họ Triệu, thì nguyên do chỉ là vì con hỏa nằm án ngữ cách minh đường ngôi mộ chừng nữa dậm.
Đó là một gò đất nổi lên, nằm trơ vơ phía trái miếu sơn thần, chạy thoai thoải đến gần mộ phần, trong giống như một mủi dùi nhọn đâm thẳng vào ngôi mả.
Vì thế, sự kết phát bị giảm súat mất một phần nhỏ.
Không những thế, nó còn là điềm bất đắc kỳ tử cho nhiều người trong họ nữa.
Vi Văn Định lo sợ, vội năn nỉ tha thiết yêu cầu thầy địa lý tìm cách trấn yểm giúp cho con Hỏa không nổi dậy, tác quái, nhiểu hại cho con cháu trong dòng họ, nhưng họ Triệu khăng khăng từ chối và cho biết : con Hoả ấy nằm sát long mạch, không có phương thế chi để diệt trừ, hay trấn áp được hết, vì chỉ hơi động đến là long mạch bị thương tổn ngay tức khắc , chẳng những không có lợi chi mà còn có thể gây thêm nguy hại cho sự kết phát sau này, uổng phí cả tâm cơ của tổ tiên ngày trước.
Vả lại, cứ như sự suy luận của họ Triệu thì các kiểu đất quý, phần nhiều đều có một vài nét khuyết điểm, nhẹ nặng tuỳ theo phước trạch của ông cha, đó là luật thừa trừ rất nhiệm mầu kỳ bí của Hoá công, chứ chẳng mấy khi được toàn mỹ, chỉ có kết mà không có đọng trê bao giờ
Chỉ cốt sao cho sự kết phát được nhiều hơn sự nguy hại, cũng đã là một điều đại hạnh cho gia chủ lắm rồi !
Ta không nên đòi hỏi quá nhiều mà vô tình cưỡng lại mệnh trời, tạo thêm sự thất đức, làm giảm bớt cả tính cách linh ứng của kiểu đất hiếm có, mà dám chắc, trên cỏi đời này, chưa chắc đã tìm được một kiểu đất tương tự thứ hai !
Cuối cùng muốn an ủi quan Tổng Đốc Thái Bình, họ Triệu đã đem nhiều chuyện thi ân, bố đức, cầu phước, khuyến thiện ra nói với dụng ý kín đáo, ngầm khuyên Vi Văn Định nên tu nhân, tích đức, làm điều lành, tránh điều dữ, để may ra có thể cứu vãn được phần nào sự nguy hại do con Hoả gây ra cho con cháu họ Vi.
Những lời khuyên kín đáo của thầy địa lý Tàu như bị rơi vào sa mạc, vì như ai nấy đều biết : Vi Văn Định khi còn nắm quyền sinh sát ở tỉnh Thái Bình, cũng như sau đấy, ở tỉnh Hà Đông, vẫn luôn luôn thẳng tay sát hại đồng bảo lương thiện, nhất là những nhà cách mạng nuôi chí lắp bể vá trời, muốn đánh đuổi thực dân,để khôi phục nền độc lập cho giang sơn tổ quốc.
Muốn được mẫu quốc ghi công để ban thưởng cho mề đay, kim khánh, tiến chức, thăng quan nhanh chóng hơn diều gặp gió. Vi Văn Định đã chẳng chút ngại ngần, trút hết cả mọi nổi khổ lên đầu các chiến sĩ cách mạng, sáng chế ra nhiều loại hình phạt, cực kỳ dã man hiểm độc, đến nổi chỉ nghe nói qua đến những thủ đoạn của họ Vi làm Tổng Đốc tỉnh này, người yếu bóng vía cũng đã thấy rùng mình sởn gai óc.
Bà con ở Thái Bình di cư vào Nam, hẳn còn nhớ thời kỳ họ Vi làm Tổng Đốc, đã có ra một nghiêm lịnh quái ác : triệt để bắt các hương lý chức dịch các làng xóm phải diệt cho kỳ được loai bèo Tây, mà có nơi quen gọi là sen Nhật Bản, một giống bèo có sứ bành trướng mạnh mẽ phi thường, sinh sôi nẩy nở nhanh chóng, nhiều vô số kể trong một thời gian ngắn ngủi, có rễ dài, nổi lềnh bềnh trên mặt nước cả hoa màu tím và lá màu xanh mới trông cũng khá đẹp mắt.
Nhưng vì nó sinh sản nhiều quá lẹ quá, nên vẻ đẹp thuở ban sơ, đột nhiên biến mất, để nhường chỗ cho sự chán ghét trong tâm khảm mọi người.
BÁC SĨ T. EM RUỘT VI-VĂN-ĐỊNH BỊ NGỰA DẨM CHẾT DƯỚI LÒNG SUỐI

Theo lời những ông già, bà cả kể lại, thì khi thứ bèo hoa tím, lá xanh, hình cánh quạt mới xuất hiện tại biển đông nhiếu nhà quan quyền ,phú hộ, cường hào đã không quản ngại tốn kém, mướn người đi lấy về để thả trong bể, cho bèo nổi trôi quanh hòn non bộ, giống hệt những chiếc thuyền bồng bềnh giữa bể khơi, coi đó như một môn giải trí thanh cao, thích thú cho những người giàu sang, nhàn rỗi.
Nhưng người đời, xưa nay vẫn ham tân, chuộng lạ, chỉ say sưa mê thích những cái gì khan hiếm ít khi tìm thấy được dễ dàng ở trên thế gian, chớ nếu nơi nào cũng đầy rẩy, chất đống cao như cây rơm , cây rạ ở thôn quê, thì còn có nghĩa lý gì.
Giá trị nó lúc ấy, quả thật không còn đáng được nửa đồng.
Thứ bèo Nhật Bản kia cũng vậy !
Những gia đình quyền quý, thừa tiền, thừa bạc, khi thuê người đem thứ bèo đó về thả vào bể nước, thấy nó sinh con đẻ cháu nhanh chóng, mạnh mẽ lạ lùng, lúc đầu còn vui thích, sung sướng, nâng niu, lấy giống đem thả xuống hồ, xuống ao.
Chỉ mấy hôm sau, hồ, ao cũng đầy ứ loại hoa tím lá xanh, khiến chủ nhân không còn muốn “thưởng thức” cái loại hoa kỳ lạ đó nữa.
Hơn thế, những loại rau muống hay sen trắng, sen đỏ trồng sẳn ở trong hồ ao từ trước, lại còn bị thứ bèo mới tới lấn át, đến phải héo hắt, chết dần, chết mòn, suốt lượt.
Thứ bèo trồng chơi từ bể nước, vì vậy đã bị mất địa vị danh hoa, phải đem ra quăng cả ra hồ ao, cống rãnh.
Và kỳ lạ hơn hết, là ở đâu, bất cứ rạch bần ao rộng hẹp thể nào, giống bèo đó cũng sinh sản nhanh hơn cỏ dại.
Người ta vứt ra ngoài ruộng chiêm ngập nước thì chỉ vài ba hôm cả cánh đồng đã tím ngắt màu… sen Nhật Bản.
Thuở bấy giờ nhằm kỳ nghỉ lể, em ruột quan Tổng Đốc Thái Bình là Bác sĩ Vi Văn T… được nghỉ mấy hôm, về thăm quê nhà ở Lạng Sơn, một hôm Bác sĩ T. cưỡi ngựa dạo chơi quanh vùng, khi vượt qua một con suối nông cạn mà mực nước không ngập quá gối, Bác sĩ T. lại bị ngã ngựa, rồi bị ngựa cuống quít dẫm chết luôn ở giữa lòng suối.
Mọi người chung quanh đấy vội đổ xô đến cứu cấp, nhưng không kịp.
Thì ra con ngựa của Bác sĩ T. lúc lội qua suối, bị vướng phải rễ bèo tây, cuống cẳng nên ngã quỵ ngay xuống suối, quăng luôn cả Bác sĩ T. xuống nước.
Khi con ngựa vùng vẫy thoát khỏi đám rễ bèo, nó lại hoảng hốt lội mau lên bờ, chẳng ngờ rủi ro làm sao, lại dẩm bẹp ruột Bác sĩ T. khiến Bác sĩ T. chết liền không kịp kêu cứu.
Tin dữ bay xuống tỉnh Thái Bình, làm cho Vi Văn Định tức giận như kẻ điên cuồng, phần thương tiếc đứa em mới thành tài, chưa kịp hưởng thụ đúng mức sự giàu sang cho bõ công học hành vất vả, đã phải bỏ mình vì một tai nạn không có nghĩa lý gì, nên ngay lúc ấy, liền hạ lệnh cho tất cả tổng lý, hương chức các làng xã trong toàn hạt Thái Bình phải trừ tiệt loại bèo tây, nơi nào trái lệnh, sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật.
Các hương lý, chức dịch thôn quê ở Thái Bình lúc bấy giơ thật đã vô cùng điêu đứng, khổ cực, trước cái lệnh quái gỡ của vị quan đầu tỉnh, vì giống bèo tây sống dai hơn đĩa đói, dù vớt lên bờ phơi khô, mà các bèo gặp trời mưa to, trôi xuống hồ ao cống rãnh, vẫn có thể hồi sinh, đã đẻ ra con, ra cháu, nhiều vô số kể và nhanh như chớp. Vì vậy, cứ vớt sạch được chỗ này, thì chỗ kia đã lại có bèo mọc. Nhiều nơi dân chúng không còn làm ăn được gì nữa mà chỉ lo đi vớt bèo cũng vẫn không xong.
Nhiều đêm, quan Tổng Đốc đã bất thình lình, mặc thường phục vi hành đến thăm các làng tổng, thôn xóm xa xôi trong địa phương, nếu thấy nơi nào còn sót ít nhiều bèo tây trong hồ ao, là lý dịch sở tại bị gọi ngay ra đình, cho quan đầu tỉnh sĩ vã chẳng tiếc lời và nọc nằm thẳng cẳng trên nền gạch, bắt lính hầu phải dùng ba toong to bằng cườm tay, quật cho quắn đít, liền chỉ hồ điệp hàng hai ba chục chiếc đến nứt da, nứt thịt, máu me chảy đầm đìa, mới chịu buông tha cho các nạn nhân sau khi đã buông thêm lời cảnh cáo : nếu còn tái phạm, sẽ bị trừng trị nặng nề ghế ghớm hơn nhiều.
Tiếng tàn ác của Vi Văn Định lan rộng khắp nơi. Nhiều đoàn thể chánh trị, thấy y lợi hại quá, e trở ngại cho các hoạt động của các đảng phái yêu nước, đã tìm cách để ám hại y, nhưng lần nào Vi Văn Định cũng thoát chết.
Hôm mới được tin em ruột chết trước một tai nạn hầu như quá vô lý, vì người nào đã từng ở Lạng Sơn, hay có qua đó một vài lần, cũng phải công nhận rằng : con suối mà Bác sĩ Vi Văn T. đã cưởi ngựa vượt qua mực nước thực sự chỉ sâu chừng hai gang , đứng trên bờ, bất cứ giờ nào cũng trông rõ cả lớp cuội trắng nằm lấp lánh dưới đáy .
Vậy mà khi Bác sĩ T. cho ngựa lội xuống suối, lại bị rể bèo quấn cẳng, khiến con tuấn mả của họ Vi, vốn khét tiếng là giống ngựa tốt, phải ngã quị, quăng luôn cả chủ nhân xuống nước.
Lạ lùng làm sao, là khi bị té nhào, xuống suối, Bác sĩ T. lại không thế nào đứng vùng lên được, mặc dầu ngày thường, Bác sĩ T. rất khoẻ mạnh, ham chuộng tập dượt chạy nhảy, lại thêm am hiểu cả võ Tây và võ Nhật. Bác sĩ cứ nằm chịu trận dưới lòng suối cho đến lúc bị con ngựa dẩm chết mà vẫn không có một ai biết hết.
Cho mãi tới khi con ngựa theo đường cũ chạy về nhà, người nhà họ Vi thấy con ngựa hí vang rầm, khắp mình ướt sủng nước mà Bác sĩ T. lại không cùng về, nên lo sợ chia nhau đi tìm kiếm khắp nơi.
Một bọn gia nhân vừa ra tới bờ suối, đã thấy Bác sĩ T. nằm thẳng cẳng dưới lòng nước.
Chúng hè nhau lội xuống đem lên bờ, thì Bác sĩ đã tắt thở tự bao giờ, thân thể lạnh toát khắp mình, bị vó ngựa dẩm xây xát, tím bầm.
Sau khi nhận được hung tinh, Vi Văn Định la hét vang dinh Tổng Đốc Thái Bình.
Lúc đầu, Định chỉ tưởng là một tai nạn rủi ro : nhưng sau phút cáo giận, y chợt nhớ tới lời tiên đoán của thầy Địa lý năm nào, khi được mời đến Ngòi Xảo để phúc lại phần mộ Tổ phụ an táng trong kiểu đất ” Lưỡng Ngưu ẩm thủy “, y mới giật mình, hoảng sợ, vội đi tìm cuốn gia phả coi lại những lời ghi chú về nơi đất quý địa ấy.
Thì rõ ràng, tổ phụ họ Vi cũng đã có dặn lại, là sự động trệ sẽ kèm theo với sự kết phát để trong dòng họ, luôn luôn có người bị bất đắc kỳ tử do con Hỏa ở trước mộ phần gây ra.
Vi Văn Định tức bực, vỗ án rầm rầm, muốn lên ngay Ngòi Xảo để cải táng ngôi mả tổ đi, vì y được thấm nhuần ít nhiều Tây học, không tin mạch đất lại có thể giáng phúc, tạo được sự kết phát cho con cháu lâu dài.
Y viết thư gửi cho các em, nói rõ ý định ấy, làm cho em ruột y là Vi Văn L., Tri Phủ Nước Hai hoảng sợ, phải dùng ngay xe hơi nhà, đi suốt đêm về Thái Bình để ngăn cản ý định điên rồ ấy của Định.
Sau khi thấy anh đã nguôi giận, Vi Văn L. liền giới thiệu với Định một thầy Dịa lý nguyên quán ở miền Trung, lúc đó đang ngồi dạy học tại nhà quan Phủ Nước Hai, để ủy thác cho người này tìm phương trấn yểm con Hỏa.
Vi Văn Định cho em biết là trước kia, y cũng đã cho người phúc lại ngôi mả và yêu cầu người ấy trấn yểm con Hỏa, song nhà phong thủy Trung Hoa này viện cớ con Hoả nằm liền sát long mạch, nếu động tới, e sẽ làm thương tổn cho sự vận chuyển của mạch đất.
Vi Văn L. nhất định, tin tưởng vào tài ba của thầy Địa lý miền Trung nên hết lời phân trần với Định, để xin về đưa nhà phong thủy qua Ngòi Xảo làm bùa phép trấn yểm. Nễ em qua, Định đành phải nghe lời, cho phép Vi Văn L. được trọn quuyền hành đông.
* Địa lý có phải là hoang đường như nhận xét thiển cận của số người vẫn tự nhận là … Tân học không ?
* Chôn nơi tốt, hài cốt nở ra bóng lộn có khi kết thành tượng, chằng chịt tơ hồng.
* Táng nơi xấu, xương bị hao mòn dần, lâu ngày thành đất vụn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: